Tâm linh Chùa Việt Nam Chùa miền Bắc Chùa Hộ Quốc – An Khánh Tự

Chùa Hộ Quốc – An Khánh Tự

107
0
Tháp trong chùa Hộ Quốc
Chia sẻ:

Chùa Hộ Quốc còn có tên An Khánh Tự và chùa Thanh Lương, ở phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Nguyên ban đầu gọi là chùa An Khánh. Đến đời Lê do chùa đã có công lớn trong việc giúp vua trị vì đất nước, vì vậy để nhớ ơn sâu, đời Lê Trung Hưng đổi ra thành Hộ Quốc Tự.

Chùa tọa lạc trên một khu đất khá cao so với xung quanh, diện tích khoảng 3 sào Bắc bộ.

Theo bài minh trên chuông chùa Hộ Quốc thì chùa này do đức Linh Lang đại vương đời Lí Thánh Tông (1054 – 1058) xây nên cho dân có nơi thờ cúng, tụng niệm, diệt trừ thói xấu, gây dựng cái thiện cho đời.

Đến thế kỷ XVI, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, vua Lê phải lánh ra ở chùa, vua Lê đi rồi, quân Mạc đến đốt phá cả chùa. Sau khi nhà Lê Trung Hưng, nghĩ đến ơn trước, cho lập lại chùa tráng lệ hơn, ban tên là Hộ Quốc, cấp cho nhiều ruộng ngoài bãi sông làm hương đăng cúng Phật. Sau này chùa được trùng tu sửa chữa nhiều lần, đáng kể vào năm thứ 4 niên hiệu Khải Định (1919) tu tạo lại toàn bộ chùa. Mặt bằng chùa hình chuôi vồ gồm Tiền đường 5 gian, Thiêu hương và chuôi vồ 3 gian. Trong chùa còn nhiều hiện vật, tượng Phật có giá trị mang phong cách nghệ thuật Hậu Lê.

Chùa Hộ Quốc cũng giống như đại đa số các ngôi chùa khác ở các tỉnh phía Bắc nước ta, thờ Phật theo phái Đại Thừa. Do đó, chùa cũng có một hệ thống tượng giống như các chùa khác như: Adi đà, Tam thế, Phật Liên Hoa, Anna-Ca diếp, Quan âm Thế chí, Thích ca Cửu Long… Phần lớn tượng của chùa Hộ Quốc tương đối lớn và đa số chất liệu bằng gỗ mít.

Đến nay, chùa Hộ Quốc còn có một số lượng di vật cổ có giá trị lớn với hơn 30 pho tượng, 3 bia đá, 3 chuông đồng. Trong đó phải kể đến quả chuông thời Tây Sơn, niên hiệu Cảnh Thịnh – 1978. Bên cạnh đó còn có các di vật khác như: Hoành phi, câu đối, đặc biệt là các bức y môn và cửa võng được làm đầu thế kỷ 20 với các chạm trổ cầu kỳ tinh xảo. Các bức đại tự, y môn của chùa vừa là di vật đồ thờ quý, vừa góp phần trang trí cho kiến trúc của chùa thêm sinh động và uyển chuyển. Quả chuông thời Tây Sơn có bài minh ghi rõ: Chùa này do đức Tinh Lang đại vương thời vua Lý Thánh Tông (1054 – 1048) xây dựng với tên gọi lúc đó là chùa An Khánh. Chùa xây dựng là nơi để nhân dân thờ cúng, tụng kinh niệm Phật diệt trừ thói xấu gây thiện cho đời. Cũng theo bài minh, có sự việc: vào thế kỷ 16, lúc xảy ra âm mưu thoán nghịch cướp ngôi vua Lê của “Mạc Đăng Dung”, trong đêm vua nằm ngủ ở chùa, một vị thần đã báo mộng: phải đi ngay để tránh tai họa. Nhờ đó, vua Lê kịp thời tránh đi, trước khi quân nhà Mạc đến. Không tìm được vua Lê, quân Mạc đã đốt phá chùa. Sau này, khi nhà Lê khôi phục lại quyền bính, để ghi nhớ công ơn, vua đã cho trùng tu và sửa chữa chùa, và đã ra sắc chỉ đổi tên chùa là Hộ Quốc. Từ đó, tên chùa Hộ Quốc ra đời và tồn tại cho đến ngày nay.  Chùa Hộ Quốc là một di tích cổ, đẹp, bề thế có giá trị.

Chùa đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 9/1/1990.

Cảm nhận của bạn?