Tâm linh Chùa Việt Nam Chùa miền Nam Chùa Ông (Cần Thơ)

Chùa Ông (Cần Thơ)

882
0
Chùa Ông
Chia sẻ:

Chùa Ông (Cần Thơ), tên gốc là Quảng Triệu Hội Quán (chữ Hán: 廣肇會館;广肇会馆) ), tọa lạc tại số 32 đường Hai Bà Trưng, thuộc phường Tân An, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Đây là một ngôi chùa của người Việt gốc Hoa tại Cần Thơ, và là một di tích lịch sử cấp quốc gia kể từ năm 1993.

Tên gọi

Sở dĩ có tên Quảng Triệu Hội Quán(廣肇會館;广肇会馆) là vì chùa vốn là hội quán của một nhóm người Hoa thuộc hai phủ Quảng Châu 廣州 và Triệu Khánh 肇慶 (đều thuộc tỉnh Quảng Đông 廣東, Trung Quốc) theo dòng di dân sang lưu trú ở đất Trấn Giang (tức Cần Thơ xưa) vào thế kỷ 17-18. Tuy nhiên, người dân vẫn quen gọi là Chùa Ông, vì ở chính điện thờ Quan Thánh Đế quân (tức Quan Công).

Ngoài ra, một số người còn gọi đi tích tôn giáo này là chùa Bà vì ngoài việc thờ các vị nam thần, nơi đây còn thờ Thiên Hậu Thánh Mâu và Phật Bà Quan Thế Âm, đây cũng là một đặc điểm riêng trong tín ngưỡng thờ cúng của người Hoa.

Cũng như một sổ ngôi chùa của người Hoa khác, chùa Ông không nằm biệt lập mà gần gũi hài hòa trong khu dân cư đông đức, ngay giữa trung tâm thành phố cần Thơ, cạnh Bến Ninh Kiều.

Lịch sử hình thành và kiến trúc

Chùa được khởi công xây dựng trên phần đất 532m2 vào năm 1894 (năm Quang Tự thứ 20, và là năm Thành Thái thứ 6), đến năm 1896 thì hoàn thành. Khác với một số chùa Hoa khác, chùa Ông ở cần Thơ không có bia ký ghi tên những người khởi công xây dựng, niên đại hình thành, nhưng ở các mảng chạm khắc gỗ, đôi liễn bình phong, lư hương đều có ghi rõ tên tác giả, người ủng hộ và năm thực hiện.

Cả lịch sử hình thành và kiến trúc của chùa Ông đều cho thấy chùa được xây dựng qua ba thời kỳ với ba kiểu kiến trúc tượng trưng ứng với từng bộ phận của chùa là Chính diện (do La ích Xe khởi công xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XIX), nhà khách (do con trai của La ích Xe là La Thành Cơ xây dựng vào cuối thế kỷ XIX) và nhà khói (tức khu nhà bếp của chùa, do Hương quan Dương Lập Cang xây dựng vào năm 1931). Tuy lịch sử dựng chùa kéo dài qua ba thời kỳ với ba kiểu kiến trúc ít nhiều khác nhau nhưng lại rất hài hòa với nhau tạo thành quần thể kiến trúc chùa Ông độc đáo.

Hầu hết vật liệu để cẩu thành các chi tiết kiến trúc đều được đưa từ Quảng Đông sang như cột gỗ, đá làm trụ chân cột, liễn đối, kèo, đòn tay, chuông đồng, lư hương và đều có ghi niên đại 1896 do các nhà hảo tâm đóng góp. Riêng các bao lam ở bàn thờ Quan Công thì được làm tại đường Thủy Binh (đường Đồng Khánh, quận 5, Chợ Lớn, Thành phổ Hồ Chí Minh). Bệ thờ, tượng Quan Thể Âm, ba bàn hương án trước bàn thờ Quan Thánh thì xây dựng vào năm 1974 bằng đá mài.

Toàn bộ kiến trúc chùa được xây dựng theo hình chữ quốc với các dãy nhà khép kín vuông góc vói nhau, ở giữa chùa một khoảng không gian trống gọi là sân thiên tỉnh (giếng trời). Một khác biệt so với chùa Việt, Khmer là chùa Ông không cọ cảnh quan bao bọc xung quanh, quy mô nhỏ bé, đơn giản, các cột tô đá rửa, nối với nhau bạng những song sắt. Trên hai cột chính là một cột lận bằng sành sứ nhiều màu, ở các cột khác là các hình nhân và cá hóa long.

  • Tiền điện: Bên trái thờ Mã Tiền tướng quân và bên phải thờ Phúc Đức Chính Thần.
  • Sân thiên tỉnh: Đây là một đặc điểm của các chùa Hoa với mái lợp âm đương, gờ mái bằng men xanh thẫm, bộ vì kèo làm theo kiểu chồng rường gối mộng lên nhau qua những con bọ được chạm khác tinh vi, xung quanh mái được thiết kế di động để điều chỉnh ánh sáng thiên nhiên. Trong sân đặt hai bộ bát bào, chậu kiểng, bàn hương án. Trên vòm mái treo một báo ghi môn và bàng đại tự “Hiệp lực đồng” các tượng Quan Công, Thiên Hậu Thánh Mầu, Phật Bà được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau, gỗ, thạch cao, nét mặt, dáng điệu đều theo một quy ước.

Nổi bật nhất trong nghệ thuật điêu khắc ở chùa ông cổ lẽ là phù điêu, chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong trang trí. Phù điêu hiện diện khắp nơi ỉừ các bao lam, hoành phi, liễn đối, xà ngang, bằng nghệ thuật chạm nổi với nội đung vô cùng phong phú được rut ra từ các huyền thoại, lịch sử Trung Quốc: Tam quốc chí, Ngũ Hổ bình tây, Bát tiên, Đông Chu liệt quốc, Thủy cung hoặc thể hiện ờ kỹ thuật chạm chìm những đề tài quy ước mai, lan, cúc, trúc, lưỡng long chầu nguyệt, cá hóa tiên, chim phụng…

Tín ngưỡng thờ cúng và lễ hội

Quan Công là vị thân được thờ chính trong chùa Ông là biểu tượng cho nhân nghĩa lễ trí tín, cho lòng danh dự, đũng cảm trung thành của người Hoa. Ngoài ra, ở đây còn thờ một số vị thần khác:

  • Thiên Hậu Thánh Mẫu: Vị thần hỗ trợ cho những di dân Trung Hoa trên biển cả.
  • Phật Bà Quan Thế Âm: Vị nữ thần cứu khổ cứu nạn, ban phát con cái.
  • Ông Bản: Vị thần cai quản một khu vực đất đai, ban phát của cải, mang lại sự phồn vinh, hạnh phúc.

Không kể các ngày lễ hội thường kỳ hàng năm quy tụ đông đảo nhân dân, hầu như ngày nào cũng có người đến viếng chùa. Chùa Ông có những ngày lễ sau:

  • “Ngày vía” tức là ngày sinh của các vị thần được thờ: Quan Công (13 tháng giêng âm lịch), Thiên Hậu (23 tháng 3 âm lịch), ông Bản (2 tháng 2 âm lịch). Vào những ngày này người ta sắm sửa lễ vật đến cúng chùa tùy theo tính chất và tập tục của các thẩn mà lễ vật khác nhau: Quan Công (cúng chay, hoa quả hương đèn), Bà Thiên Hậu (cúng heo quay sơn đỏ), Ông Bản, thần tài (cụng heo sống).
  • Ngày tểt là một sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo quan trọng, là lễ hội lớn nhất trong năm. Tùy theo điều kiện kinh tế mà trong những ngày này đồng bào Hoa mang đến chùa heo quay, heo sổng, gà vịt, bánh trái, nhang đèn… họ sửa sang trang hoàng lại chùa, tắm gội và ăn mặc thật đẹp đẽ cùng nhau đốt cho các vị thần những nén hương vái tất cả sự trong sạch và tinh khiết của thể xác và tâm hồn. Thỉnh thoảng có những năm ban quản trị còn tổ chức sính hoạt lễ hội dân gian truyền thống như múa lân, rồng, sư từ, thi đấu võ thuật, biểu diễn nghệ thuật sân khấu Quảng Triều.

Nhìn về mặt tôn giáo, tín ngưỡng của chùa Ông cũng như một số chùa Hoa khác có thể thấy một đặc điểm đáng lưu ý là phần tíri ngưỡng có vẻ nổi bật hơn tôn giáo.

Chùa Ông là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia được Bộ Văn hóa xếp hạng năm 1993.

Cảm nhận của bạn?