Chùa Quan Thế Âm tọa lạc ở thôn Sơn Thủy, xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, trong khu vực Ngũ Hành Sơn. Đặc biệt nơi đây được gọi là Thánh Địa Phật Giáo, vì hầu hết trên năm ngọn Ngũ Hành Sơn đều có chùa chiềng cổ kính hoặc tân tạo. Hệ thống hang động thiên nhiên kỳ vĩ, biển rộng sông dài, mái chùa hoặc ẩn mình trong hang cốc hoặc cheo leo trên sườn vai của núi hoặc uy nghiêm tọa lạc bên núi vững vàng, sương giáng mây vờn, tàng cây tươi mát, chim hót lừng vang.

Phía Đông biển xa vời vợi, bãi cát trãi dài. Phía Tây Trường Giang lượn khúc, sông sen thơm lừng, đồng quê yên ả.. Chùa Quan Thế Âm thuộc hệ phái Bắc tông.

 

Lịch sử chùa Quan Thế Âm

Chùa Quan Thế Âm do cố Hòa thượng Thích Pháp Nhãn trong một giấc thần mộng về Ngài Quán Thế Âm ứng hiện nơi động thiêng, pháp đàn của Ngài.

Theo đó, Hòa thượng đã tìm thấy ngôi thạch động có tôn tượng Quan Âm hoàn toàn do thiên nhiên tạo nên thật là ứng nghiệm, từ đó Hòa thượng đã thành lập ngôi chùa Quan Thế Âm, vì có sự nhiệm mầu của Phật Pháp như vậy khiến lòng người phải ngưỡng mộ kính tin.

Chùa Quan Thế Âm được xây dựng từ năm 1960 đến năm 1962. Hàng năm, chùa có tổ chức lễ hội văn hóa vào ngày vía Bồ Tát Quan Thế Âm, ngày 19 tháng 2 âm lịch.

trụ trì chùa Quan Thế Âm hiện nay là Đại đức Thích Huệ Vinh, cảnh quan chùa rộng rãi, nhiều công trình được xây dựng như tượng đồng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm rất đặc sắc, hội trường, tăng xá… thuận lợi cho việc tu tập và sinh hoạt, số tăng chúng tu học tại chùa trên 60 Chư Tăng và Chúng Điệu, có các đạo tràng tu học – tương tế – từ thiện – văn nghệ, thư họa v.v…

Động quan thế âm

Động Quan Âm là động lớn được tìm ra vào năm 1956. Đường xuống động nằm cạnh chùa. Động có chiều dài khoảng 50m, rộng 10m, trần động có vô số thạch nhũ đầy màu sắc và hình dáng, nổi bật là pho tượng Quán Thế Âm cao 1,75m, một bức phù điêu thiên tạo kỳ diệu. Ở động còn có “chuông đá lớn” được gọi là Thạch Chung thiên cổ, đó là tiếng chuông được phát ra từ một thạch nhũ to tròn như cây cột, cao 5m; và những âm thanh như tiếng trống, tiếng mõ, tiếng khánh… phát ra từ các thạch nhũ khác.

Lễ hội chùa quan thế âm

Lễ hội chùa Quan Thế Âm là một lời cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho mưa hòa gió thuận; là dịp để mọi người, mọi giới chan hòa trong không khí hội hè, soi nành vào bản sắc văn hóa dân tộc để ngày một sống đẹp hơn.

Lễ hội chùa Quan Thế Âm được tổ chức hàng năm tại khu du lịch Ngũ Hành Sơn, thành phổ Đà Nẵng. Lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1960, nhân ngày khánh thành tượng Bồ Tál Quan Thế Âm ở động Hoa Nghiêm thuộc ngọn Thuỷ Sơn, phía Tây Ngũ Hành Sơn. Hai năm sau, lễ hội được tổ chức nhân dịp khánh thành chùa Quan Thế Âm ở động Quan Thế Âm, là nơi phát hiện một khối thạch nhũ có hình tượng Phật Bà Quan Thể Âm

Phần lễ: Mang màu sắc lễ nghi Phật giáo với các nội dung:

  • Lễ rước ánh sáng: Nghi lễ rước ánh sáng thường tổ chức vào tối ngày 18, gồm rước đuốc, rước kiệu, múa lân, múa rồng để cầu mong ánh sáng soi đường cho chúng sinh, mà trong Phật giáo ánh sáng đồng nghĩa với trí tuệ, trí tuệ sáng thì tấm lòng, đạo đức trong sáng, sẽ làm nhiều việc thiện.
  • Lễ khai kinh: Lễ được tổ chức vào sáng sớm ngày 19, đây là lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an, chúng sinh an lạc.
  • Lễ trai đàn chấn tế: Lễ này cũng được tổ chức vào sáng ngày 19 để cầu siêu, cúng thập loại chúng sinh, thường trước đó đồng bào Phật tử gởi danh sách những người thân của mình đã mất đến chùa để làm lễ cầu siêu. Trong lễ này phải mời người có giới phẩm đứng ra làm lễ.
  • Lễ thuyết giảng về Bồ Tát Quan Thế Âm và dân tộc: Lễ cúng được tổ chức vào sáng ngày 19, ngợi ca lòng từ bi bác ái của Đức Phật Bồ Tát Quan Thế Âm và cầu nguyện cho dân tộc an bình, thịnh vượng.
  • Lễ rước tượng Quan Thế Âm: Lễ này tổ chức vào khoảng 10 giờ sáng ngày 19, sau các nghi lễ trên, bốn người khiêng kiệu trên có tượng Phật bà đi trước, và đồng bào Phật tử đi sau, kiệu được khiêng từ trên chùa và đi xuống chiếc thuyền đậu trên Sông cầu Biện (nhánh của sông Cổ Cò), sau đó cho thuyền chạy vòng quanh sông Cổ Cò. Lễ này nhằm cầu nguyện cho đồng bào, chúng sinh đi biển, đi làm ăn trên sông nước được thuận lợi bình an.
  • Ngoài các nghi lễ trên, còn cố lễ tế xuân (cúng sơn thủy, thổ thần) để cầu quốc thái dân an. Lễ thường được tổ chức vào đêm ngày 18. Trong ngày lễ này các bô lão của các phường Hòa Hải, Hòa Quý khăn áo chỉnh tề, tay cầm cờ lọng, đuốc, lồng đèn, có đội nhạc cổ và chiêng trống di theo. Sau khi làm lễ và đọc văn tế, đoàn bô lão sẽ dẫn đầu đoàn rước cộ xuống bờ sông cầu Biện để mở hội hoa đăng, rồi từ chùa Quan Thế Ấm đi quanh các khu phố qua các làng đá mĩ nghệ Non Nước, xuống khu du lịch Non Nước và trở về lại lễ đài với lộ trinh dài hơn 2km.

Phần hội: Diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hoá – thể thao mang đậm bản sắc dân tộc xen lẫn với hiện đại như hội hoá trang, hát dân ca, thi cờ, nhạc, hoạ, điêu khắc, múa tứ linh, thả đèn trên sông, hát tuồng… các hoạt động vắn hóa như triển lãm thư pháp và tranh thủy mặc, hội thi thuyết minh về danh thắng Ngũ Hành Sơn, hội thi nấu ăn chay…

Nhờ vào vị thế sơn thủy hữu tình, các nội dung phong phú của lễ hội đã thu hút khá đông khách hành hương cùng khách du lịch trong và ngoài nước đến với phía Tây thắng tích Ngũ Hành Sơn.

Trên sân bãi, diễn ra trò chơi kéo co truyền thống. Ngoài phía sông Cổ Cò, vang tiếng hò reo của khách tham gia hội đua thuyền, hội đua thúng lắc. Khi đêm xuống, lễ hội càng lộng lẫy, hoành tráng với nhiều thanh âm và màu sắc.

Sau khi ‘Truyền thuyết Ngũ Hành Sơn” được diễn xong ở sân khấu chính, các đội hình rước đuốc, rước cộ bắt đầu được diễu hành qua các đường phố chính của Ngũ Hành Sơn. Dưới sông, các cư sĩ chùa Quan Thế Âm thả hoa đăng, gửi lời cầu nguyện cho ánh sáng trí tuệ được trường tồn như dòng nước.

Với nhiều hoạt động văn hóa – thể thao mang đậm tính dân tộc, lễ hội Quan Thế Âm tuy mang màu sắc tôn giáo nhưng lại đi sâu vào tự tình dân tộc, góp phần phục hồi và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Cảm nhận của bạn?