Tâm linh Lịch sử - Truyền thuyết Sự tích Thánh Gióng phá giặc Ân

Sự tích Thánh Gióng phá giặc Ân

3946
0
Tượng Thánh Gióng - Sóc Sơn, Hà Nội
Chia sẻ:

Theo Quốc sử và thần tích địa phương thì nước Văn Lang đến thời Hùng Vương thứ VI gặp nhiều tai biến, dân tình cực khổ vô cùng. Nạn hổ beo họp thành đàn về bắt người, phá của ở các bộ: Phong Châu, Phúc Lộc, Chu Diên, Tân Hưng, Vũ Ninh, Vũ Định… Nạn giặc Mũi Đỏ chiếm 16 châu, đặt sào huyệt ở Hà Lỗ. Giặc Ân sang xâm chiếm vùng Vũ Ninh – Sóc Giang ngày càng lấn chiếm rộng ra.

Trước những tai họa lớn lao dồn dập, vua Hùng Huy Vương họp triều thần tại đô thành Phong Châu bàn kế cứu dân, cứu nước. Cả nước dấy lên một không khí lập công dâng lên vua Hùng.

Kết quả là sau 2 năm đã trừ được nạn hổ và nạn giặc Mũi Đỏ. Nhưng tai hoạ lớn nhất đe dọa vận mạng của cả nước Văn Lang là giặc Ân. Sách “Thiên nam ngữ lục” cho biết: giặc Ân đông như kiến, quân đến chục vạn, tướng đến gần nghìn. Theo “Lĩnh Nam chích quái” và các thần tích thì giặc Ân đóng đồn chi chít dọc sông Vũ Ninh (tức sông từ Lục Đầu đến Ngã Ba Xà) và dọc sông Sóc Giang (tức sông Cà Lồ và sông Công), chúng lại chiếm giữ địa thế cao của các núi Trâu Sơn, Phả Lại, Thất Diệu, núi Bầu, Thanh Tước, núi Độc, núi Sóc, Y Sơn, Thanh Sơn.

Về tội ác của giặc Ân, đến nay các ông già, bà lão ở những làng có di tích về Thánh Gióng còn lưu truyền lại nhiều câu chuyện cổ. Sách “ Thiên Nam ngữ lục” cũng cho biết vài nét về tội ác của giặc Ân:

Bắc phương ngoài dặm xa khơi
Gái ép làm thiếp, trai đòi làm phu.

Giặc Ân dùng toàn đồ bằng đá. Chúng có một con ngựa đá đã làm cho biết bao nhiêu người bị giết. Đó là con ngựa của Ân Vương. Mỗi ngày chúng bắt dân ta ở các làng nộp cho chúng 1000 gánh cỏ cho ngựa của chúng ăn và 1000 hộc gạo cho quân chúng ăn. Nếu làng nào thiếu gạo, thiếu cỏ thì chúng phạt làng đó phải bón cỏ cho ngựa đá ăn, ngựa không há mõm ăn cỏ thì chúng khép vào tội chết.

Hơn một năm trời giặc Ân hoành hành, gây biết bao đau thương tang tóc cho nhân dân. Vua Hùng đã cử nhiều binh tướng giỏi đi dẹp giặc nhưng không ai đánh bại được quân Ân. Giữa lúc thế giặc đang mạnh, vận nước đang lâm nguy thì Thánh Gióng xuất hiện.

Thánh Gióng hay Thánh Đổng là con ông Đùng, một chân đứng trên núi Sóc, một chân bước xuống vườn cà làng Gióng Mốt. Ông Đùng là một nhân vật khổng lồ trong thần thoại người Việt. Hiện nay nhiều quả núi trên đất nước ta còn có vết chân ông Đùng, kèm theo những câu chuyện thần kỳ. Ông Đùng tượng trưng cho sức mạnh thần kỳ trong mơ ước vươn lên của con người, và là một sức mạnh giao thoa giữa Trời và Người, giữa Thiên nhiên và Xã hội.

Mẹ Gióng là một người đàn bà nghèo khổ ở làng Gióng Mốt (thôn Đổng Viên, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm). Một hôm bà giẫm phải dấu chân khổng lồ của ông Đùng, rồi bà có thai. Thánh Gióng là hiện thân của ông Đùng, chung đúc khí thiêng của non sông, đất nước, biểu thị sức mạnh thần kỳ trong mơ ước của con người.

Theo truyền thuyết dân gian thì Thánh Gióng được thụ thai ở bên làng Gióng Mốt nhưng khi ra đời lại lọt lòng mẹ tại rừng Trại Nòn ở làng Phù Dực. Một hôm gió to bão lớn, sấm sét đùng đùng thì bà mẹ đau bụng chuyển mình, chạy ra bờ đầm ngồi nghỉ. Tự nhiên chớp lóe xuống mặt đầm, rồi một chiếc cầu đá từ dưới đáy đầm nổi lên nối bờ vào gò, bà mẹ Gióng theo cầu đá ấy đi vào đỉnh gò và đẻ Gióng ở đó. Gióng lọt lòng, bà mẹ lấy liềm đá cắt rốn, bà dùng nước ở thống để tắm rửa cho con, tắm xong đặt con lên chõng đá, chim chóc quanh đầm bay vào gò hót gáy để chào mừng, mặt trời cũng như đến tận gốc cây để sưởi ấm cho Gióng.

Các cụ già ở Phù Dực, Phù Đổng còn kể thêm: Tục truyền có một điều lạ nữa là hình như tất cả các thứ tôm cá, rau quả ở đầm Trại Nòn, thiên nhiên chỉ ưu đãi riêng cho mẹ Gióng ăn để lấy sữa nuôi Gióng. Cũng nhờ có nguồn lợi ít ỏi ở khu đầm mà mẹ Gióng đã thầm lặng nuôi Gióng được ba năm, dù Gióng chỉ nằm im một chỗ, ai nói gì cũng mặc.

Cúc tàn lan nở, ngày lại tháng qua… mẹ Gióng âu sầu nhìn quanh gò đầm, cây ba mùa đổi lá, quýt ba lần nở hoa, Gióng đã ba tuổi rồi mà vóc dáng không hề cao lớn thêm, cũng không hề biết cười nói. Mẹ Gióng đang âu sầu thì bỗng nghe ngoài đường làng có đoàn người đi, vừa gõ, vừa rao. Tiếng rao rằng:

Chiềng làng, chiềng chạ
Thiên hạ, dân gian Nước bị giặc ân
Vua Hùng kén tướng
Nghìn vàng giải thưởng
Ai có tài hùng
Mau ra lập công
Giết giặc cứu nước
Cốc cốc ! cốc cốc !

Tiếng rao ngoài làng vang động không gian, lọt vào tai Gióng. Gióng vui cười, cựa mình, mở to đôi mắt sáng, cất tiếng vang như sấm, gọi mẹ: Mẹ ơi, mẹ gọi người rao ấy vào đây cho con! Mẹ Gióng bước vào vừa mừng, vừa sợ. Bà vội chạy ra đường bẩm bạch, đón mời đoàn sứ giả nhà vua vào. Đoàn sứ giả vào nhà kể rõ chuyện nhà vua đang cần người tài để đánh đuổi giặc Ân. Kể xong thấy Gióng vươn vai một cái, thân hình đã cao hơn trượng, các sứ giả kinh hoàng. Gióng bảo:

Bay về tâu với đức vua
Cơm ăn thổi láy chừng vừa bảy nong
Cà ăn muối ba gồng
Ngựa sắt, vọt sắt ta dùng dẹp Ân.

Sứ về tâu vua, vua vui mừng tỏ rõ lên nét mặt, hạ lệnh sai tìm thợ rào (thợ rèn) xúc tiến công việc theo ý Gióng. Thành phẩm đợt đầu dâng vua, vua khen chế tạo nhanh, mọi người chịu khó. Nhưng khi đưa Gióng dùng, Gióng mới ngồi lên thì con ngựa sắt đã bẹp dí. Đợt sau vua giao việc cho tốp thợ cả làng Xuân Kỳ (Phù Lỗ) thiết kế, Xuân Kỳ biết rút kinh nghiệm nấu quặng, tạo khuôn đúng cách nên ngựa rất cao to và chắc chắn. Ngựa lần này Gióng cưỡi lên nhún nhảy tha hồ, Gióng vừa ý nói rằng : “Ngựa lần này chắc chắn lắm, phần trong như có đủ tim phổi, ruột gan.” Vua Hùng bén xuống chiếu ban khen tốp thợ làng Xuân Kỳ tạo khuôn tinh vi, đắp lò đều lửa, ông thợ cả được phong Hỏa Nhạc đại thánh. Về sau Hỏa Nhạc đại thánh được thờ ở đền Trôi thôn Xuân Kỳ, xã Đông Xuân, Sóc Sơn.

Việc lo cơm cà cho Gióng và cho quân ăn thì trước hết giao cho làng Phù Đổng và các làng xung quanh. Bà mẹ và dân làng Phù Đổng mang đến cho Gióng nhiều cơm cà, Gióng ăn một mạch hết cả 10 nong rồi ra sông uống nước.

Bảy nong cơm, ba nong cà
Nước uống một mạch, cạn đà khúc sông.

Gióng càng ăn, càng uống thì lại càng cao, càng lớn. Thân cao hơn 10 trượng, vai rộng gần 100 gang… Rồi Gióng mặc áo giáp sắt, đội nón sắt, cầm roi sắt, nhảy lên ngựa sắt, lên đường ra trận, quyết mở trận đầu tại núi Trâu Sơn. Gióng kéo quân đi đến đâu thì nhân dân ở đó từ trẻ em đến ông già đều tự nguyện theo Gióng ra trận. Một lão nông ở thôn Đông Cao (tổng Tiểu Lễ, huyện Đa Phúc) đang đập đất, nghe tin Gióng ra trận, vội vác vồ chạy qua 99 cánh đồng mới kịp ngựa Gióng. Khi Gióng qua làng Trung Mầu (Gia Lâm), qua làng Cán, làng Ngườm ở Quế Võ, có nhiều đoàn người đang làm ruộng cũng vác vồ, vác cuốc hoặc buông cày, buông bừa xin nhập vào quân đội Gióng. Gióng còn cho cả trẻ em đang chăn trâu, chăn bò, đang câu cá, bắt ếch theo quân Gióng ra trận. Một lực lượng chống giặc Ân hùng hậu, phấn chấn, có đủ thành phần, đủ lứa tuổi…Đó là hình ảnh của toàn dân đánh giặc được khắc họa đủ màu trong huyền thoại và truyền thuyết.

Cuộc phản công tiêu diệt giặc Ân của Thánh Gióng theo thần tích và truyền thuyết các làng có thể trải qua 4 đợt chiến đấu với chiến sự diễn ra ở 4 địa bàn khác nhau:

Đợt 1: Đối tượng tiêu diệt là thành Ân Vương, cũng chính là đại bản doanh của Thái tử Ân và Thạch Linh thần tướng. Kết quả Ân Vương bị chém đầu. Thánh Gióng quất bay đầu ngựa đá của Ân Vương xuống chân núi Phả Lại thì roi sắt cũng bị gãy làm đôi. Thánh Gióng giật gốc tre đằng ngà vút lia lịa, giặc lăn ra chết không đếm xuể. Nhưng giặc còn tướng Thạch Linh rất ngoan cố và còn nuôi hy vọng đánh thắng quân ta. Sách “Lĩnh Nam chích quái” ghi trận này như sau: “ …Trong chiến trận ở Trâu Sơn, Ân Vương ngực đeo bài ngọc bị chém chết ở dưới núi, tướng sĩ Ân thua chạy toán loạn.”

Đợt 2: Thánh Gióng chia quân chặn dọc phía sông Lục Đầu không cho giặc chạy thoát theo đường thủy. Về phía giặc, Thạch Linh củng cố lại đội ngũ tướng sĩ, tăng cường phòng ngự khắp các đồn còn lại. Thánh Gióng mở đợt vây quét, tập trung thanh toán địa bàn Tiên Du – Yên Việt. Giai đoạn này hai bên đánh nhau to, chiến sự kéo dài suốt mấy ngày đêm rất ác liệt: giặc Ân có đến 28 tướng bị tử trận, binh lính chết nhiều vô kể.

Đợt 3: Địa bàn chủ yếu là vùng Đông Ngàn – Yên Phong – Hiệp Hòa. Tại đây giặc bị quân ta truy quét ráo riết, ngày nào cũng giết và bắt được tướng giặc, lính giặc. Sau đó, Gióng phi ngựa thúc quân truy lùng tướng Thạch Linh. Vây bắt Thạch Linh ở Cánh Đồng Sào gần chợ Bầu. Thạch Linh phá vòng vây, lặn ngụp xuống đáy sông rồi trốn vào rừng. Khi đến làng Sổ (Phù Lỗ) tạm cho quân nghỉ, Gióng lau mồ hôi rồi tắm, gội đầu, ngủ bù một giấc. Chỗ Gióng dừng quân nghỉ về sau dân làng lập đền gọi là đền Phù Lỗ. Nơi Gióng tắm, gội đầu sau có tên là Bến Thánh Gội Đầu.

Đợt 4: Đây là giai đoạn cuối của cuộc chiến đấu chống giặc Ân xâm lược. Lần này địa bàn chủ yếu là các huyện Kim Hoa, Đa Phúc và một phần huyện Hiệp Hòa. Ở đây giặc Ân đã thua to nhưng chưa giết được tên tướng Thạch Linh. Thạch Linh là một dị nhân phương bắc, hắn cao lớn, khỏe mạnh, răng cắn vỡ đá, chân chạy như sóc, mũi thở rung cành cây. Nếu để nó sống sót thì nước Văn Lang còn có phen hậu họa về sau. Bởi vậy Thánh Gióng quyết trừ khử cho được tên tướng đầu sỏ Thạch Linh (văn bia gọi là Thạch Linh Thần Tướng).

Quân ta bao vây Thạch Linh mỗi này một đông, một chặt, Thánh Gióng phi ngựa tới, Thạch Linh vừa chống trả, vừa tẩu thoát nhanh như sóc. Thánh Gióng đoán biết thế nào Thạch Linh cũng nhằm hướng khu rừng Tam Đảo để thoát vào đó nhằm dung thân lâu dài. Gióng đuổi gấp, đuổi riết cát bụi bay mù mịt, lá đổ cành gãy, phép thần của Thạch Linh không chọi nổi phép thần của Thánh Gióng. Ngựa của Thạch Linh phi tới chân núi Sóc Sơn, không ngờ ngựa của Gióng như thần gió lao vút tới chồm lên chặn đầu ngựa giặc. Thánh Gióng nhanh như cắt cầm gậy tre đập vỡ mặt Thạch Linh, đánh vỡ sọ nốt tên Hữu tướng và Tả tướng của hắn.

Với trận Sóc Sơn, giết được ba tướng giặc hung ác, đập tan lực lượng xâm lược quân Ân, cuộc kháng chiến giữ nước đã kết thúc thắng lợi. Người anh hùng làng Gióng sau khi hoàn thành nghĩa vụ đối với đất nước đã cởi áo giáp sắt vắt lên cây, ngồi ngắm nhìn quê hương rồi phóng ngựa bay về trời đi vào cõi bất tử một cách hào hùng, hiên ngang.

Để tưởng niệm và ca ngợi chiến công của người anh hùng Thánh Gióng, Vua Hùng phong sắc ghi hiệu thần là Đổng Thiên Vương và cho dựng đền thờ lưu truyền đến nay.

Cảm nhận của bạn?