Tâm linh Văn hóa tâm linh Thờ cúng Trang trí bàn thờ tổ tiên

Trang trí bàn thờ tổ tiên

539
0
Bàn thờ tổ tiên của người Việt
Bàn thờ tổ tiên của người Việt
Chia sẻ:

Bàn thờ thường được thiết lập ở gian giữa nhà chính tức là nhà trên, nếu không có một nhà riêng để làm nhà Thờ.

Bàn thờ tổ tiên của  người Việt
Bàn thờ tổ tiên của người Việt

Bàn thờ được thiết kế hai lớp:

Lớp trong:

Lớp trong kê sát ngay vào tường hậu gồm:

-Chiếc rương thật lớn, cao vào khoảng một thước, dài trên hai thước và rộng gần hai thước.

Mặt trước chiếc rương có đóng nẹp chia làm ba ô, ở các ô này , có khi là ba chữ đại tự,  có khi là những bức tranh được dán vào trong những dịp tết.Trên nẹp có những đồng tiến hoặc kẽm tùy theo từng nhà.

Trong chiếc rương cất đựng những bát đĩa, nồi đồng, xanh đồng lớn, hàng ngày không dùng đến chỉ những khi giỗ tết mới lấy ra.

Tại những gia đình sung túc, chiếc rương lớn này được thay bằng một chiếc bàn to, đúng là một chiếc sập sơn son thếp vàng, kê trên mễ cao vào khoảng một thước. Phía đằng trước thường có một tấm màn bằng vải đỏ che giấu những mâm thau đồ đồng cùng bát đĩa, được xếp dưới gầm sập thay vì để trong rương.

– Ít nhất hai chiếc mâm nhỏ chân quỳ mặt hình chữ nhật: Một chiếc bề dài độ tám tấc, bề rộng độ sáu tấc, kê ở giữa chiếc rương hoặc chiếc sập nói trên. Chiếc mâm thứ hai nhỏ hơn, kê đằng sau chiếc thứ nhất. Hai chiếc mâm này cao chừng bốn tấc trông giống như hai chiếc bàn nhỏ thấp, dùng để bày đồ lễ trong những ngày sóc vọng tết. Trong những ngày giỗ tết có làm cỗ, cỗ bày trên chiếc mâm thức nhất, còn hương trầu nước bày trên chiếc mâm thứ hai nhỏ hơn.

– Bên trong cùng lớp thứ nhất là Thần chủ đựng trong long khám kê trên một chiếc bệ, chiếc bệ này cao ngang hai mặt chiếc mâm.

Có nhiều gia đình không thờ thần chủ chỉ kê ở nơi đây một chiếc ỷ hoặc một chiếc ngai tượng trưng cho ngôi vị của tổ tiên.

Hai chiếc mâm kê trên mặt rương, chiếc ỷ hoặc chiếc ngai cũng như tất cả các đồ thờ khác thường bằng gỗ mít, thứ gỗ này ít mọt , có mùi thơm, màu vàng đẹp.

Tại những gia đình sung túc, những đồ thờ này thường được sơn son thếp vàng rất lộng lẫy. Riêng về chiếc ngai, dù bằng gỗ mít hay bằng loại gỗ khác được sơn son thếp vàng, hai tay ngai đều mang mình đầu rồng, rồng đứng đầu tứ linh và dùng trang hoàng cho đồ tự khí.

– Trên chiếc mâm nhỏ kê bên trong, ở trước thần chủ hay chiếc ngai ta thường thấy một cái tam sơn một đồ thờ để đặt đĩa trầu, chén rượu, ly nước, đãi hoa quả trong những cúng lễ. Tại nhiều gia đình thay vì chiếc tam sơn có kê những chiếc đài mà công dụng cũng như chiếc tam sơn. Mỗi chiếc đài thường cao độ năm phân và nho nhỏ để đặt vừa chiếc ly, chiếc chén hay đãi đựng, trầu rượu nước hoa trong khi cúng lễ. Đó là lớp trong bàn thờ. Lớp trong này được ngăn với lớp ngoài bằng một chiếc y môn tức là một chiếc bàn thờ, thường màu đỏ bằng the nhiễu hay vải tùy theo gia cảnh từng nhà.

Chiếc y môn treo từ trên cao thẳng xuống, lúc buông che kín hết bàn thờ trong khi vén lên cũng đủ ngăn chia hai lớp bàn thờ. Y môn nghĩa đen là chiếc cứa vải, nhưng trên bàn thờ tổ tiên y môn là chiếc màn ngăn các lớp bàn thờ bên ngoài với lớp bên trong. Chiếc y môn gồm ở phía trên một lớp ngang bằng vải lụa hoặc nhung the màu. Trên lớp ngang này thường có thêu hoặc dán mấy chữ đại tự, giống như những chữ khắc ở hoành phi. Từ lớp ngang trên thông dọc xuống hai cánh bằng vải, the, nhung hoặc lụa màu hồng hay đỏ, có khi viền vải thêu chung quanh, có khi chỉ khâu trơn các mép. Hai cánh này thường ngày được vén lên, chỉ buông xuống trong ngày giỗ, lúc gia trưởng đã cúng khấn và con cháu đã lễ bái xong. Sở dĩ y môn buông xuống là vì trong lúc tổ tiên thụ hưởng đồ lễ, cần phải che màn để hương hồn các cụ có thể hưởng lễ, cần phải che màn để các cụ có thể hưởng lễ được một cách tự nhiên, cũng như người sống khi ăn không muốn kẻ khác nhìn mồm dù đó là con cháu.

Ở đằng trước y môn thường có treo một chiếc đèn gọi là tự đăng. Xưa kia ta thắp đèn dầu lạc tự đăng là một chiếc đền lồng, về sau được thay bằng một chiếc đèn ba giây thắp dầu lửa, và kể từ những năm đã có điện tại các đô thị chiếc đèn ba giây lại được thay thế bằng chiếc đèn điện. Chiếc đèn này vào những dịp giỗ tết được thắp suốt ngày, trong thời kỳ người ta cho rằng hương hồn người khuất tại vị trên bàn thờ. Ngọn đèn tượng trưng cho sự hiện diện của tổ tiên.

+ Lớp ngoài:

Lớp ngoài bàn thờ bắt đầu từ chiếc y môn trở ra:

– Trước tiên là một hương án cao.

– Trên hương án này, tại chính giữa là một bình hương bằng sứ để cắm hương khi cúng lễ.

– Đằng sau bình hương là một chiếc kỷ nhỏ, giống chiếc mâm kê ở trước Thần chủ lớp trong, chiều dài ba mươi phân dài năm mươi phân, rộng độ hai mươi năm phân.

Đặt trên chiếc kỷ nhỏ này là ba chiếc đài có nắp và trên nắp có núm cầm. Khi mở nắp ra, nắp kê xuống dưới đài đặt lên trên. Đài bằng gỗ đã được tiện rỗng dưới để khi đặt lên trên nắp đài, đài sẽ khớp với nắp. Hoặc dài bằng đồng cũng vậy.

Ba đài này đựng chén rượu nhỏ lúc cúng lễ. Hàng ngày đài đậy nắp để tránh bụi bặm, chỉ mở ra trong những dịp giỗ tết sóc vọng, và trong những dịp này bao giờ chén cũng được rót rượu vào.

– Hai bên bình hương là hai cây đèn, cao khoảng bốn tấc chân tiện và lưng chừng có vành rộng ra gọi là đĩa đèn. Hai cây đèn này chính ra chỉ là hai đế đèn, vì không có chỗ đựng dầu để thắp.

Trong những ngày cúng lễ xưa kia, người ta đặt lên trên hai cây đèn này hai đĩa dầu lạc hoặc dầu lai dùng bấc đốt. Từ khi tiếp xúc với phương Tây, hai đĩa dầu trên được thay thế bằng hai ngọn đèn dầu lửa. Tại các nhà hàng sang trọng, những nơi đô thị, từ ngày có điện người ta mắc bóng điện thẳng vào hai cây đèn.

– Gần hai bên bình hương, ngoài hai cây đèn có khi còn có hai con hạc chầu hai bên. Trên đầu hai con hạc cũng có chỗ để thắp nến.

Ở mé ngoài hai cây đèn, gần hai đầu hương ấn là hai ống hương, dùng để đựng hương. Hai ống hương này chân tiện, miệng hơi loa.

– Nhiều khi ngoài các đồ thờ trên, còn có một lọ độc bình hoặc đôi song binh này trên hương ấn, có cắm cành đào trong dịp Tết cũng như các cành hoa khác trong ngày giỗ chạp hoặc sóc vọng.

– Trong trường hợp chỉ có một chiếc độc bình, đối diện với chiếc độc binh là một chiếc mâm bồng để bày hoa quả trong lúc cúng lễ, cũng có khi là một chiếc mâm chân quỳ.

Tất cả những đồ thờ trên: hương án, kỷ nhỏ, đèn nến, ống hương, mâm bồng v.v… tại các gia đình bình thường thường bằng gỗ mít, hoặc sang hơn thì sơn son thếp vàng trừ bình hương và lọ độc bình, song bình bằng sành hoặc sứ.

Thay cho các đồ gỗ trên các gia đình sang trọng dùng đồ bằng đồng gọi là những bộ tam sự, ngũ sự hay thất sự. Cũng có nhà sắm toàn đồ sứ Giang Tây rất quý.

Tất cả những tự khí trên, gia đình càng sung túc càng sắm thứ đắt tiền quý giá, những gia đình nghèo túng, dù sao cũng cố cho có được một bình hương và đôi đèn nến.

Trước bàn thờ tại các nhà giàu có đôi khi còn bày thêm giá binh khí, có cắm bát bảo lộ bộ tức là tám thứ vũ khí của quân sĩ thời xưa.

Những đồ tự khí coi là rất thiêng liêng, nghèo thiết đến đâu cũng không ai dám đem cầm bán, người nào bất đắc dĩ phải cầm bán đồ thờ đều bị dân làng chê cười.

 

 

 

Cảm nhận của bạn?